Nỗi buồn thế hệ của Huy Cận trong bài thơ Tràng Giang

14/02/2020

Nhắc đến phong trào Thơ mới, chúng ta biết đến những cái tên như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,..và một cái tên không thể không nhắc đến trong làng thơ này chính là tác giả của những bài thơ mang nỗi sầu buồn vô tận-Huy Cận. Thơ của ông được ví như mang mạch sầu chảy ra từ trong lòng vũ trụ, và một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho mạch sầu ấy chính là bài thơ “Tràng Giang”. Trước con sông Hồng mênh mang sóng nước, nhà thơ đã tuôn trào những cảm xúc không tên, để từ đó viết lên một “Tràng Giang” để lại bao say đắm trong lòng người đọc.

“Tràng Giang” là một trong những bài thơ tiêu biểu trong tập thơ “Lửa thiêng” được sáng tác năm 1940. “Lửa thiêng” được xem là một trong những tập thơ tiên phong của phong trào Thơ mới, mang đậm dấu ấn Huy Cận. Thơ ông mang một vẻ đẹp cổ điển, đậm màu sắc triết lí, cảm hứng vũ trụ được bao trùm bởi mạch sầu ảo não, bi thương, chảy tràn đến muôn vạn kiếp. Ẩn sâu trong đó là nỗi niềm yêu nước thầm kín, nỗi buồn sầu chung của cả một thế hệ. Ở trong thơ Huy Cận có sự kết hợp giữa hồn thơ đa sầu đa cảm với tấm lòng yêu nước.

Phân tích bài thơ Tràng Giang

Bài thơ “Tràng Giang” được sáng tác vào một buổi chiều thu năm 1939, khi nhà thơ đang dạo bước trên bến Chèn, nhìn hình ảnh dòng sông cuộn đỏ phù sa, Huy Cận có cảm hứng trước hình ảnh dòng sông mênh mang sóng nước mà viết nên bài Tràng Giang. Đọc bài thơ ta không chỉ ấn tượng với cảnh sắc sông Hồng vào một buổi chiều hoàng hôn, mà còn bởi câu chữ gợi cho ta một cảm xúc buồn man mác.

Nỗi buồn ấy có lẽ được thể hiện ở ngay nhan đề của bài thơ- “Tràng Giang”. “Tràng” là biến âm của trường, có nghĩa là dài, nhan đề cả bài thơ “Tràng giang” mang nghĩa là một con sông dài. Nhưng Huy Cận không muốn đặt là Trường Giang vì nó trùng với tên một con sông lớn ở Trung Quốc. Cùng âm “vang” trong “Tràng Giang” gợi lên cảm giác mênh mang, tạo ấn tượng ban đầu cho người đọc, cũng là mạch cảm xúc man mác xuyên suốt cả bài thơ.

Những vần thơ đầu của bài đã mở ra trước mắt ta một bức tranh “Tràng Giang”, nơi mà có sóng nước mênh mang, có những con thuyền xuôi mái, có một vài cành củi lạc trôi giữa dòng:

 “Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

 Câu thơ đầu tiên “Sóng gợn Tràng Giang” gợi ra chuyển động nhẹ nhàng của sóng nước, từng đợt sóng gối lên nhau, xô đuổi nhau, nối tiếp nhau xuôi dòng. “Con thuyền xuôi mái nước song song”, con thuyền xuôi theo dòng nước tạo thành hai làn nước phía sau, đây gần như là hình ảnh tả thực khi tác giả đứng bên bờ quan sát. Hai câu thơ sử dụng từ láy về nghệ thuật đối “buồn điệp điệp” >< “nước song song” tạo ra hình ảnh dòng sông rộng lớn với độ dày (điệp điệp), độ dài (song song) của dòng nước. Tạo cảm giác những con sóng chở nỗi buồn đi về nơi xa thẳm, giống với cảm hứng quen thuộc trong thơ Huy Cận.

Ở hai câu thơ tiếp theo, tác giả chỉ mối quan hệ giữa “thuyền” và “nước”, tạo ra hình ảnh đối lập nhưng thực chất lại là mối quan hệ hữu cơ giữa thuyền và nước. Hai vận động ngược chiều gợi ra sự chia ly, phiêu tán, theo dòng sóng mang nỗi buồn đi trăm ngả. Cấu trúc “buồn điệp điệp”, “nước song song”, “sầu trăm ngả”, cộng hưởng tạo ra không gian ba chiều, vỗ nhịp vào nỗi buồn trong lòng tác giả. Hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng” sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, “cành củi khô” là cành củi đã chết, “lạc mấy dòng”, chỉ sự phiêu bạt. Câu thơ sử dụng nghệ thuật lấy điểm tả diện, cành củi khô vừa làm cho dòng sông mênh mông, vừa gợi sự nổi trôi, lẻ loi, lạc loài.

Mạch vận động của cả hình ảnh thơ được thể hiện qua đoạn thơ trên chính là sóng gợn, thuyền xuôi, củi lạc mấy dòng, diễn tả dòng đời mênh mang đang chảy trôi không ngừng nghỉ, con thuyền cũng như cành củi khô, tạo ấn tượng về nỗi đơn chiếc lẻ loi. Sự kết hợp thanh điệu và kết cấu bài thơ tạo âm điệu nhẹ nhàng, trầm buồn. Khổ thơ có hai từ chỉ nỗi buồn “buồn” và “sầu” như những nốt nhạc trầm kéo bản nhạc trùng xuống.

 Mở đầu khổ thơ thứ hai là hình ảnh: “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”. Nghệ thuật đảo ngữ từ “lơ thơ” được đảo lên đầu câu gợi không khí thưa vắng, hoang lạnh. “Gió đìu hiu” là sự thanh vắng của đôi bờ, không gian vắng lặng, cô tịch, cảnh vật đôi bờ hoang sơ. Thơ ngắt nhịp 4/3 và cân đối với nhau, cộng hưởng để tạo không gian buồn thưa thớt trong sự lặng lẽ của bờ sông. 

Không chỉ có hình ảnh mà đâu đó còn có âm thanh của cuộc sống “đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Từ “đâu” gợi ra sự mơ hồ, không xác định, cũng có thể là không có, mà chỉ xuất hiện trong tâm tưởng tác giả. “Làng xa” nói về sự xa xôi, hư ảo. Không gian chợ chiều gợi ra cuộc sống tan tác, buồn thương, bản thân Huy Cận cũng từng nói, “không có gì vui hơn một buổi chợ đông, không có gì buồn hơn một buổi chợ tàn”. Cuộc sống buồn tẻ, gợi nỗi lòng của buổi tha hương. 

Câu thơ tiếp theo là mạch vận động đầy ấn tượng “Nắng xuống/Trời lên/Sâu chót vót” là những vận động quen thuộc của tự nhiên nhưng ngược hướng. Cảm nhận tưởng như lạ hóa ngôn từ nhưng lại mang cảm hứng vũ trụ, gợi cảm giác xa vời, khôn thấu, thẳm cùng của vũ trụ. Cảm giác rợn ngợp khi hướng lên là bầu trời cao rộng, phá dưới là dòng sông mênh mang vô thủy vô thiên đến tận cùng. Một bức tranh không có đường viền, không gian ấy chiếu thẳng lên dòng sông gợi ra không gian ba chiều vô định: sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Một không gian có chiều sâu của vũ trụ, chiều dài của dòng sông và chiều rộng của bầu trời. Hình ảnh “bến cô liêu”: sự đối lập giữa một bên là vô hạn vĩnh hằng của thiên nhiên, một bên là cuộc sống của con người. Bút pháp “họa vân hiển nguyệt”, tả không gian trời nước vô cùng để gợi ra cái cô đơn, trống trải. Con người trở nên nhỏ bé trước thiên nhiên, giữa mây trời non nước. Nếu như ở khổ 1 có hai chữ “buồn”, “sầu” thì ở khổ 2 có hai chữ “vãn” và “cô”, gợi sự lẻ loi, bơ vơ đến tội nghiệp.

Xuất hiện đầu tiên trong bức tranh tiếp theo là hình ảnh hoa trôi bèo nổi, đây là hình ảnh gợi cho con người ta nghĩ về sự trăn trở, lênh đênh, nổi chìm của một kiếp người. Hình ảnh “hàng nối hàng” gợi sự nhàm chán triền miên, một kiếp hoa trôi bèo nổi, sự sống phiêu dạt, vô định của kiếp người. Mượn hình ảnh bèo dạt để gợi sự hoang vắng của dòng sông, không chỉ hoang vắng ở mặt nước mà còn ở không gian đôi bờ. Không một chuyến đò ngang, không một chuyến cầu làm cho cuộc sống trở nên xa xôi, hư ảo, mơ hồ, khiến con người ta dễ đắm chìm trong cảm giác ấy. Cảnh sắc đôi bờ thêm một lần nữa hiện lên mang màu sắc úa tàn, “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Đó có thể là hình ảnh những bãi ngô, bãi khoai của người dân hai bên bờ tràng giang, gợi lên hình ảnh về một cuộc sống sinh hoạt bình dị.

Phân tích bài thơ Tràng Giang

Ngắm nhìn cảnh vật, một cảm xúc buồn trào dâng trong lòng người thi sĩ: 

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều xa

Lòng quê rợn rợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. 

Tầm nhìn được hướng lên trời cao, từng lớp mây chiều như đùn lên, như biển cồn núi bạc chồng chất lên nhau, thiên nhiên kì vĩ, núi bông trắng được dát bạc trên bầu trời. Xuất hiện giữa không gian ấy là một cánh chim nhỏ, ánh chiều đổ xuống, cánh chim nhỏ nhoi tựa như tia nắng cuối cùng rớt xuống trên nền trời. Sự tương đồng giữa các hình ảnh “củi”-“chim”, “lạc”-“sa”, “trôi”-“rớt xuống”, gợi lên sự bé nhỏ, cô đơn, những kiếp sống mỏng manh giữa cuộc đời hữu hạn. Câu thơ giàu nhạc tính, câu một vút lên, câu hai như rơi xuống, ánh ngày đã cạn, con người càng thấm sâu vào vô vọng.

Hai câu cuối của bài thơ mang đậm phong vị đường thi, nhắc đến hình ảnh khói hoàng hôn, ta lại nhớ đến những câu thơ trong đường thi, thi nhân nhìn thấy khói sóng mà nhớ quê nhà:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)

(Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu)

Thì nay một nhà thơ mới đứng trước dòng sông đất Việt chảy mênh mang đất trời, dù không thấy khói sóng trên sông mà tình quê vẫn dâng lên dào dạt. Huy Cận dùng từ thuần việt nhất “lòng quê” giữa cái cổ điển nhất. Nỗi khắc khoải hoài hương của lòng quê xa xứ. Vậy là trước một dòng sông với con nước vời vợi, dờn dợn thì có một con nước khác đang dâng cao lên từng lớp trong lòng thi nhân. Đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước vẹn tròn thầm kín, sâu sắc. Phải chăng mong ước có một cây cầu nối hai bờ tràng giang cũng giống như mong muốn nối hai đầu đất nước. Bức tranh tả cảnh ngụ tình theo công thức của đường thi, “mỹ cảnh nhân sầu”, nỗi buồn tuôn chảy cùng dòng tràng giang. Một dòng nước mà ngôn từ không thể níu kéo được. Đây chính là thế giới của “Lửa thiêng”. Lời cạn, ý ngừng như âm hưởng bài thơ còn vang mãi như đợt sóng tràng giang ngân lên vời vợi.

Bài thơ giàu chất cổ điển, mang nhiều hình ảnh và đường nét trong Đường thi, với cách sử dụng từ ngữ thuần Việt, sử dụng nhiều từ láy và hình ảnh gợi tả, mang nét cổ điển, hiện đại, gợi dậy mạch sầu của hồn thơ Á Đông nhưng lại rất chân thực, không khuôn sáo, ước lệ. Xuyên suốt bài thơ là cảm xúc man mác buồn, nỗi buồn của Huy Cận giống như mạch sầu tuôn chảy về từ vũ trụ. Nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn của cả một thế hệ Việt Nam trong những năm tháng bế tắc. Qua bài thơ, ta thấy được tình yêu thiên nhiên, cũng như tình yêu quê hương, đất nước, con người của thi sĩ. Đọc những sáng tác của ông, ta càng thêm yêu quý, trân trọng một hồn thơ với nhiều nét mới lạ, mang nỗi buồn nhưng là nỗi buồn của một con người yêu nước trong hoàn cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn. Những trang thơ của ông sẽ còn sáng mãi và được yêu quý bởi bạn đọc ở mãi những thế hệ sau này.

>> Xem thêm ngay: