Phân tích bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

11/02/2020

 Trong những năm 1932-1945, Văn chương Việt Nam bắt đầu chuyển mình mang hơi hướng thơ ca lãng mạn. Từ đây, xuất hiện những nhà thơ mới mang phong cách mới lạ và cái tôi riêng biệt thổi vào hồn thơ. Nếu Xuân Diệu gắn liền với chất đắm say rạo rực thì Hàn Mặc Tử được biết đến với cái điên trong thơ ca của mình. Trong thế giới điên cuồng, kì dị đó đọng lại với người yêu văn chương là những tập thơ khi ông viết về xứ Huế. Tiêu biểu và ấn tượng hơn cả là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

  Hàn Mặc Tử (1912-1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Phong Lộc, Đồng Hới nhưng ông lớn lên và sống chủ yếu tại Quy Nhơn. Nói về nhà thơ Hàn Mặc Tử chúng ta thường nhớ tới một bi kịch cuộc đời. Là một người thi sĩ yêu đời, yêu người đầy tài hoa nhưng đoản mệnh. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông rất ngắn ngủi khi ông ra đi ở tuổi đời còn rất trẻ vì mắc phải căn bệnh nan y thời bấy giờ- bệnh phong.

  Bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” lấy cảm hứng từ một bức tranh của Hoàng Cúc – người con gái Hàn Mặc Tử thầm thương trộm nhớ gửi cho ông. Theo kể rằng, bài thơ được viết trong những ngày tháng cuối đời, khi ông đang điều trị bệnh phong ở trại phong Quy Hòa, ông nhận được một bưu thiếp của người con gái quê ở Vĩ Dạ - Hoàng Cúc. Trên bưu thiếp đó có hình ảnh một dòng sông, con thuyền và vầng trăng kèm với vài lời hỏi thăm. Cầm bưu thiếp trên tay Hàn Mặc Tử bỗng thốt lên “Đây thôn Vĩ Dạ”. Đây cũng chính là cái cớ ông viết lên bài thơ. Người ta cho rằng đây là bài thơ nói về tình yêu của ông đối với Hoàng Cúc. Hay đó chỉ là một nguyên cớ để tác giả bộc lộ tình yêu tha thiết với đời?

            “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” 

  Bài thơ được bắt đầu bằng một câu hỏi tu từ với một nhịp thơ rất da diết. Câu hỏi này đặt ra không phải là để đi tìm đáp án, tìm câu trả lời rằng lí do tại sao không về chơi thôn Vĩ mà để bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình. Cụ thể ở đây là một lời chào mời dịu ngọt, nhẹ nhàng. Có nhiều người cho rằng đây là lời của Hoàng Cúc trách móc Hàn Mặc Tử hoặc là lời gọi mời của một cô gái nơi thôn Vĩ. Cũng có thể hiểu đây là câu hỏi mà Hàn Mặc Tử tự phân vân, tự đặt ra cho bản thân mình. Bởi nỗi đau hiện giờ của tác giả là nỗi đau số phận, bị cách ly với cuộc sống bên ngoài. “Về chơi” nghe có vẻ rất nhẹ nhàng nhưng đối với Hàn Mặc Tử là sự đau xót. Cái ông đối diện là sự cô đơn, là cái chết. Làm sao còn có thể trở về nữa? Đặt ra câu hỏi tự vấn bản thân thể hiện khát khao về cuộc sống, day dứt về số phận.               

                “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên 

                Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

    Trong hai câu thơ trên, thi nhân đã khắc họa ra bức tranh khung cảnh thôn Vĩ Dạ vào thời điểm bình minh. Bởi bình minh mang lại cho con người cảm giác yên bình, mới mẻ, thanh khiết khi bao trùm ánh nắng sớm dịu dàng lên mọi cảnh vật. Thơ mới, chất liệu thờ cúng mời, ông chọn hàng cau là cây cao nhất trong vườn để làm thước đo ánh nắng tự nhiên. “Nắng mới lên” hình ảnh nắng tinh khiết, rất đẹp và rất mới lạ trong văn chương bấy giờ. Từ “mướt” diễn tả một sắc xanh mượt mà, non tươi và tràn đầy sức sống, màu xanh ấy như là màu xanh của ngọc, một màu xanh vừa có hình vừa có ánh. Hình là sự trắng, trong suốt ánh là ánh long lanh, tinh khiết. Kết hợp với phó từ chỉ mức độ “quá” thể hiện sự ngạc nhiên, sự ngưỡng mộ trước khung cảnh thôn Vĩ. Tuy nhiên, đây không còn là thôn Vĩ ngoài đời thực nữa mà là bức tranh trong ký ức, trong nỗi nhớ của thi sĩ. Trong hoàn cảnh phải cách biệt với cuộc sống bên ngoài, Hàn Mặc Tử không thể “về chơi” thôn Vĩ nữa. Nhưng bằng hình ảnh mà Hoàng Cúc gửi cho mình, ông sắp xếp lại ký ức để một lần nữa tâm hồn của mình trở về với thôn Vĩ thân yêu.
Kết thúc khổ thơ đầu với một hình ảnh thơ vô cùng độc đáo: 

               “ Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

  Hàn Mặc Tử đã có vài lần đến thăm thôn Vĩ Dạ và trong ông đọng lại những xúc cảm sâu sắc về vùng đất này. Tác giả muốn truyền tải tới chúng ta không chỉ vẻ đẹp thiên nhiên nơi đất thôn Vĩ mà còn là vẻ đẹp của con người nơi đây. Cảnh và người giao hòa nên thơ nên tình. Người ta thường tìm cách lý giải rằng “mặt chữ điền” là khuôn mặt của ai? Khuôn mặt của Hoàng Cúc- người ông có mối tình đơn phương hay khuôn mặt của cô gái thôn Vĩ nào đó hay chính là khuôn mặt của Hàn Mặc Tử?  Đây là một hình ảnh tượng trưng. Đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử rất khó để cắt nghĩa, để lý giải. Có thể hiểu đơn giản rằng, khi ta nhắc tới “mặt chữ điền” sẽ hình dung ra khuôn mặt vuông vắn, đầy đặn và phúc hậu. Như vậy, nhà thơ muốn nhấn mạnh một điều, xứ Huế không chỉ đẹp bởi cảnh mà còn đẹp bởi người. Cảnh thì tinh khôi, trong sáng người thì hiền lành, phúc hậu. Đó là vẻ đẹp của những tâm hồn bình dị, chất chứa nhiều sâu sắc.

                “ Gió theo lối gió, mây đường mây
                  Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”
                 
  Nhắc đến Huế, những người đã từng ghé chân qua nơi đây chắc hẳn sẽ không quên dòng chảy của sông Hương. Sông Hương không đơn giản chỉ là một con sông mà là trái tim là tâm hồn của Huế đã đi vào không biết bao nhiêu dòng văn dòng thơ của các nghệ sĩ tài hoa. Nhưng ở đây, tất cả sự vật hiện tượng đều nhuốm màu buồn của mây gió. “ Gió theo lối gió, mây đường mây”, cách sử dụng từ ngữ rất mới, rất hay. Gió khép mình trong hai chữ “gió”, mây thu mình trong hai chữ “mây”. Nhịp thơ 4/3 như chặt đôi câu thơ, chặt đôi hai hình ảnh. Câu thơ vốn có lý trở nên vô lý, đi ngược lại với tự nhiên. Bởi gió mây là hai hình ảnh thường đi cạnh nhau “gió cuốn mây trôi”. Tác giả nhìn thấy sự tan tác, chia rẽ trong những vật không thể chia rẽ, đó là một nỗi u uất lớn, nỗi ám ảnh phải chia lìa cuộc đời. Động từ “láy” chỉ trạng thái trung lập, không vui không buồn nhưng đặt trong tâm trạng của khổ thơ lại mang một nỗi buồn man mác, hiu hắt.

                  Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
                  Có chở trăng về kịp tối nay?”

  Trong tâm trạng đau đớn đó, Hàn Mặc Tử mang cho mình những mong đợi qua hình ảnh: thuyền, sông trăng, thuyền chở trăng. Ông mong chờ điều gì? Đang phải đối mặt với nỗi đau thể xác, nỗi đau bệnh tật, ám ảnh về cái chết và một tâm hồn tổn thương sâu sắc, day dứt cuộc đời, bị giam cầm bởi nỗi cô đơn thì thái tử muốn tìm cho mình một người tri kỷ. Người bạn tri âm, tri kỉ ở đây không ai khác chính là hình ảnh “trăng”. Điều này đã trở nên quá quen thuộc với người đọc yêu văn chương. Ta tìm thấy, trăng trong thơ Xuân Diệu, trăng trong Truyện Kiều… và xuyên suốt các tập thơ của Hàn Mặc Tử. Ông hỏi gió hỏi mây, hỏi chính mình. Ông cố tìm kiếm cho mình một người thấu hiểu, một người tri kỉ trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời. “Kịp” như nỗi ám ảnh về thời gian. Không biết rằng còn có ai có thể chia sẻ với nỗi đau thân phận của Hàn Mặc Tử? Liệu có ai hiểu được nỗi lòng của thi nhân?

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Khổ thơ cuối:

                  “ Mơ khách đường xa, khách đường xa
                  Áo em trắng quá nhìn không ra”

  “Mơ” thể hiện nỗi khao khát, mong đợi của nhà thơ về một giấc mơ đẹp nhưng thương thay nó lại không có thật. Điệp từ “Khách đường xa” có thể hiểu là người thi nhân, ông mơ mình đường xa được một lần về thăm thôn Vĩ. Hay là sự mong mỏi người khác từ phương xa đến hỏi thăm mình, có thể là người bạn tri kỷ cũng có thể là Hoàng Cúc – mối tình đơn phương của ông. Sắc áo trắng được tác giả đề cập đến như lột tả dáng vẻ thuần khiết, dịu dàng của một người con gái. Hình ảnh người con gái ở đây cũng trở nên rất trừu tượng, không ai hiểu chính xác người mà Hàn Mặc Tử muốn đề cập tới. Nhưng có lẽ dù là ai đi chăng nữa thì đều là trong hư ảo. “Nhìn không ra” không phải áo trắng quá mà không thể nhìn rõ, ở đây tác giả muốn thể hiện tất cả đều ở trong một nỗi tuyệt vọng, dù ông mong đợi nhưng hiện thực không thể với tới.

                  “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
                  Ai biết tình ai có đậm đà?”

Trong sự ảo ảnh, mơ hồ, không biết đâu là thực đâu là hư “sương khói mờ nhân ảnh” nhà thơ đặt ra một câu hỏi lắng đọng kết thúc bài thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” . Tuy đã quá đau đớn, tuyệt vọng  nhưng trong Hàn Mặc Tử vẫn luôn tồn tại một tình yêu tha thiết mãnh liệt. Ông yêu cuộc sống và yêu người. Cho đến những ngày cuối của cuộc đời, tồn tại trong ông là khát vọng được sống và được yêu. Đại từ phiếm chỉ “ai” như một hệ vi mạch xuyên suốt bài thơ, làm cho ý thơ chặt chẽ và thể hiện tâm tư của nhà thơ.
 
  Bài thơ sử dụng nhuần nhuyễn các nghệ thuật như biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, điệp từ và đặc biệt là sự thành công của những câu hỏi tu từ diễn tả hết được nỗi lòng chênh vênh của tác giả. Đồng thời mang chất liệu thơ mới, phong cách siêu thực, tượng trưng trong thơ ca Hàn Mặc Tử. Truyền tải được tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình mang lại sự đồng điệu, cảm thông và ấn tượng sâu sắc.

  Qua bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” trước tiên ta cảm nhận được vẻ đẹp của miền quê thôn Vĩ. Thông qua việc khắc họa thành công vẻ đẹp của thôn Vĩ Dạ trong hai sắc thái, hai thời điểm là bình minh và đêm trăng, nhà thơ Hàn Mặc Tử đã bộc lộ tình yêu đối với một miền quê của của đất nước, đối với thôn Vĩ hài hòa dịu dàng, đối với con người xứ Huế. Đồng thời bộc lộ khát khao hòa nhập với cuộc đời, dù đau đớn, dày vò bởi nỗi đau bệnh tật, bởi sự cô đơn trong những năm tháng cuối cùng, nhà thơ vẫn hướng về cuộc đời bằng một tình yêu sâu thẳm, da diết và đậm đà. 

>> Tham khảo thêm ngay: