Vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ qua bài thơ “Chiều tối”

14/02/2020

Bác Hồ-vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, Người không những là một người chiến sĩ cách mạng mà còn là một nhà thơ, một người nghệ sĩ vĩ đại. Một trong những tập thơ của Bác phải kể đến đó chính là tập “Nhật kí trong tù”. Tập thơ gồm 134 bài thơ, tiêu biểu trong đó là bài thơ thứ 31 “Chiều tối” (Mộ). Bài thơ không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên lúc trời chiều mà ẩn chứa trong đó còn là những vất vả gian nan cũng như tinh thần thép, ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng.

Trên chặng đường giải đi từ nhà lao Tĩnh Tây sang Thiên Bảo, Bác đã viết bài thơ này. Đường đi với nhiều gian khổ, hiểm nguy, ngày ngày đi bộ hàng mấy chục cây số trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Bác đã từng viết về cuộc sống ấy trong một bài thơ khác của tập thơ này: “Năm mươi ba cây số một ngày/Áo mũ dầm mưa rách hết giày” (Mới đến nhà lao Thiên Bảo). Ở hoàn cảnh vất vả, gian lao đến cùng cực ấy, tâm hồn Bác vẫn hướng về thiên nhiên, về cuộc sống con người, vẫn sáng ngời ý chí và tinh thần thép, thể hiện một cách rõ ràng chân thực trong tác phẩm “Chiều tối”.

Phân tích bài thơ Chiều tối

Hai câu thơ đầu tiên với hai nét vẽ, một nét vẽ về cánh chim chiều, một nét vẽ về chòm mây nhẹ đã gợi ra bức tranh thiên nhiên miền sơn cước. Cánh chim chiều mang trạng thái, cảm xúc mỏi mệt, chuyển động bay về miền rừng xa. Đây giống như một quy luật của tự nhiên, sau một ngày dài vất vả kiếm ăn, cánh chim tìm một chốn dừng chân. Ở câu thơ đầu tiên, bản dịch thiếu mất chữ cây(thụ), mà chuyển sang chữ “chốn”, khiến cảnh chim trở nên bơ vơ, lạc lõng, “cây” thì đã có sẵn chỗ về, “chốn” thì chưa xác định chính xác chỗ nào. Câu thơ mang đầy sức gợi, cánh chim là thi liệu cổ, báo hiệu thời gian một ngày tàn, gợi lên nỗi lòng của người sầu xứ, tha hương, niềm mong ước sum họp của con người sau một ngày dài. Ca dao xưa từng lấy cánh chim chiều để chỉ thời gian: “Chim bay về núi tối rồi” hay trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan:

 “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Rặng liễu sương sa khách bước dồn”

Xuân Diệu cũng từng viết trong “Thơ duyên”,

“Chim nghe trời rộng giang thêm cánh

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần”. 

Hay trong “Tràng Giang”, Huy Cận viết: “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”. Hình tượng cánh chim về chiều không chỉ gợi ra cảm giác về thời gian mà còn gợi ra tâm trạng mệt mỏi của thời khắc cuối ngày. Câu thơ của Bác khiến ta hình dung về tâm trạng mệt mỏi của người tù trên hành trình bị đày ải, ở đó có sự khao khát được dừng chân nghỉ ngơi, được trở về sum họp.

Đọc câu thơ thứ hai, trong bản nguyên âm là “mạn mạn” là chuyển động nhẹ nhàng mang tính chủ động, trong khi bản dịch thơ “trôi nhẹ” mang tính bị động, lững lờ trôi vô phương. Chòm mây lẻ loi chầm chậm lờ lững bay ngang trời mang nét nghĩa tả thực, áng mây chiều trên phông nền cảnh chiều tối. Nếu cánh chim là nét vẽ mảnh mai thì áng mây là nét vẽ mềm mại, gợi ra sự cô đơn của người tù trên con đường giải lao nơi đất khách quê người.

Bút pháp chấm phá làm nên một bức tranh có đủ đường nét, hình khối, màu sắc, đường nét của cánh chim, hình khối của đám mây, màu trắng của mây, màu xanh thẫm của rừng, màu úa của hoàng hôn, màu cam của bầu trời chiều. Qua hình ảnh cánh chim và đám mây, tác giả nói đám mây cô lẻ, cánh chim mỏi nhưng lại gợi ra sự cô đơn, lẻ bóng của chính mình. Điểm quan sát của hai câu thơ hướng lên cao, và về phía trước, gợi ra tư thế của người tù luôn ngẩng cao đầu hiên ngang. Hai chữ “mạn mạn” nói lên phong thái ung dung, tự tại. Người tù ấy giống bậc tao nhân mặc khách đang đứng ngắm cảnh trời chiều. Đằng sau bức tranh thủy mặc ấy là ý chí kiên cường, nghị lực phi thường của người tù. Đó là người chiến sĩ cộng sản đầy ý chí và bản lĩnh, tự do về tâm hồn, có sự giao cảm với thiên nhiên, trong thơ vừa có chất tình, vừa có chất thép.

Không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên, bài thơ còn đẹp bởi bức tranh cuộc sống của những người dân miền sơn cước. Đó là một cuộc sống bình yên, với hình ảnh tâm điểm tâm điểm là cô “sơn thôn thiếu nữ”, một cô gái xóm núi với công việc hàng ngày. Câu thơ vừa gợi chất cổ điển là bóng dáng người con gái thường hay xuất hiện trong thơ ca, lại vừa mang chất hiện đại, mới mẻ vì “cô em xóm núi” là hình ảnh chưa từng xuất hiên trước đó. Nó gợi một sự dân giã quen thuộc của những hình ảnh trong thơ Bác.

Người con gái ấy đang trong những hoạt động của một cuộc sống thường nhật, “xay ngô”. Công việc được Bác miêu tả tinh tế bằng điệp khúc “ma bao túc-bao túc ma hoàn”, gợi ra vòng tròn của cối xay ngô, vòng quay đều đặn nhịp nhàng, linh hoạt, khỏe khoắn, thể hiện tình yêu lao động hăng say, tạo nên sức sống cho bức tranh. 

Bản dịch thơ có một chút khác biệt so với bản nguyên âm của Bác. Trong bản nguyên âm, cách gọi “sơn thôn thiếu nữ” gợi cảm giác trang trọng, trong khi cách gọi “cô em” là cách gọi dân dã hơn. Thêm vào đó, trong bản dịch dịch thừa chữ “tối”. Câu thơ cuối cùng của bài “Bao túc ma hoàn, lỗ dĩ hồng” (Xay hết, lò than đã rực hồng). Ở bản dịch thiếu chữ “ngô” làm mất đi điệp khúc trong bản nguyên âm “ma bao túc” và “bao túc ma hoàn”.

Hình ảnh “lò than rực hồng” xuất hiện ở cuối bài thơ giống như một báo hiệu về mặt thời gian đi từ chiều tới tối, cũng như báo hiệu về sự kết thúc công việc của cô gái. Chữ “hồng” ở cuối cùng giống như “nhãn tự” của cả bài thơ, là chữ “sáng nhất” bài thơ, làm cho bài thơ sáng bừng, chứ không còn u ám, xua tan cái lạnh của buổi trời chiều, và cái giá rét vể đêm của miền sơn cước. Chữ “hồng”: gợi ra ánh lửa làm sáng bừng gương mặt của người con gái, làm rạng ngời thêm vẻ đẹp của người thiếu nữ, đồng thời lan tỏa ra hơi ấm, mang đến sự sống cho con người.

Nếu như trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, sự xuất hiện của con người càng làm tăng thêm sự thưa thớt, hoang vắng của cảnh vật 

“Lom khom dưới núi, tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà” 

thì ở đây, sự xuất hiện của con người làm tăng thêm sắc màu của cuộc sống, gợi ra sức sống cho cảnh vật, làm không gian cuộc sống trở nên ấm áp hơn, bớt đi cảm giác thưa vắng của cuộc sống nơi núi rừng thôn quê.

Chất hiện đại trong phong cách thơ Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ, con người luôn xuất hiện với tinh thần lạc quan, mang hơi ấm của cuộc sống. Chữ “hồng” là điểm nhấn của bài thơ, khiến cô gái không bị lẫn vào rừng chiều mênh mông, mà trở nên hòa vào với niềm vui, niềm hạnh phúc của cuộc sống đời thường. Hai câu thơ gợi ra niềm vui, niềm lạc quan của người lao động tuy vất vả nhưng được tự chủ, vẫn luôn tin yêu vào cuộc sống. Qua câu thơ ta cũng thấy được chất thép trong tâm hồn Bác, tâm hồn của một người chiến sĩ cách mạng.

Xuyên suốt bài thơ, ta nhận thấy có hai dòng chuyển động ngược chiều nhau, đó là chuyển động về thời gian và chuyển động về mạch cảm xúc trong tâm hồn người chiến sĩ. Chuyển động xuôi chiều của cảnh vật đối lập với chuyển động ngược chiều trong cảm xúc của nhà thơ. Cảm xúc từ buồn man mác khi chiều buông đến cảm xúc vui tươi, lạc quan ở cuối bài. Cảm xúc từ sự lạnh lẽo, cô đơn như cánh chim mỏi muốn tìm chốn ngủ đến sự ấm áp, có bến đỗ ở hình ảnh lò than rực hồng, từ bóng tối chuyển qua ánh sáng. 

Vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ qua bài thơ “Chiều tối”

Qua bài thơ, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn Bác, một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, cả cuộc đời vì non nước. Ở trong tâm hồn ấy là một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu đất nước, yêu con người.  Bài thơ thể hiện một tinh thần thép của người chiến sĩ, luôn luôn kiên cường, bất khuất, tự do về tinh thần, ý chí. Rất nhiều lần trong các sáng tác của mình, Bác nhắc về sự tự do: “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao”. Bác giống như một “lữ khách tự do” giữa chốn lao tù: “Mây tạnh mây mưa bay đi hết/Còn lại trong tù khách tự do”.

Bài thơ có kết cấu về thời gian, mạch cảm xúc chuyển động xuôi chiều, từ chiều đến tối, từ hình ảnh trên cao, xa, đến hình ảnh gần gũi, đời thường. Bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi, nghệ thuật sử dụng từ láy, từ ngữ nhiều sức gợi, nghệ thuật điệp từ, cấu trúc lặp. Bút pháp chấm phá ước lệ cùng bút pháp tả thực sinh động, vừa mang tính cổ xưa vừa gợi lên những hình ảnh dân dã đời thường. Thơ của Bác vừa có chất cổ điển, vừa có chất hiện đại. Chiều tối” là một trong những bài thơ tiêu biểu của tập thơ “Nhật kí trong tù” cũng là một trong những bài thơ hay của nền văn học Việt Nam. Qua bài thơ, người tù, người chiến sĩ, người thi sĩ, đã ghi lại được linh hồn của tạo vật, đồng thời kín đáo thể hiện cảnh ngộ, nỗi lòng của bản thân, ngời sáng lên tinh thần thép của người tù vĩ đại, luôn ung dung tự tại, không khuất phục trước hoàn cảnh.

Càng đọc những tác phẩm của Bác, ta càng hiểu thêm về tâm hồn Bác, môt tâm hồn vĩ đại được yêu thương bởi triệu triệu tấm lòng Việt Nam. Tình yêu thương rộng lớn của Người luôn hướng đến mọi thứ, Người đã quên đi sự cô đơn của bản thân, nỗi lòng của một người xa xứ để nâng niu một cánh chim chiều, một áng mây trôi giữa nơi đất khách quê người. Nhà thơ Tố Hữu từng viết những câu thơ rất hay bày tỏ niềm kính yêu với vị Cha già kính yêu của dân tộc:

“Bác ơi tim Bác mênh mông thế

Ôm cả non sông trọn kiếp người”

Hay: 

“Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông đỏ lặng phù sa”

Bác Hồ-vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc sẽ mãi mãi khắc ghi trong trái tim của mỗi người dân đất Việt. Những tác phẩm của Bác cũng sẽ mãi là nguồn tài sản quý giá, giúp ta trân quý hơn giá trị lịch sử, giá trị nhân văn mà thế hệ trước đã dành trọn tâm huyết để lại cho con cháu đời sau. Dù cho lớp bụi thời gian có phủ mờ trang sách thì những sáng tác ấy vẫn còn nguyên giá trị, cũng giống như Bác Hồ vẫn sống mãi trong lòng mỗi chúng ta.

>> Tham khảo ngay: