Phân tích hình tượng người lái đò Sông Đà

15/02/2020

Vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên đất nước là đề tài muôn thuở trong văn chương, là nguồn cảm hứng dạt dào cho những người nghệ sĩ từ cổ chí kim. Nói đến đây, ta không thể không nhắc tới nhà văn Nguyễn Tuân với việc xây dựng rất thành công tác phẩm “Người lái đò sông Đà”. Đặc biệt, hình tượng người lái đò sông Đà đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc. 

Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp và có vị trí to lớn cũng như đóng góp vai trò không nhỏ với nền văn học Việt Nam. “Người lái đò sông Đà” là một tác phẩm rất thành công của ông. Nó là bài tùy bút được in trong tập “Sông Đà”, sáng tác năm 1960, là kết quả của chuyến đi lên vùng núi Tây Bắc. Tác phẩm cho ta thấy sự giàu có về tài nguyên và phong cảnh tuyệt vời của miền Tây Tổ quốc và còn tìm đến vẻ đẹp của con người Tây Bắc mà được Nguyễn Tuân gọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn. Tác giả tìm đến những lớp người đi mở đường kiến thiết Tây Bắc, những người lái đò dũng cảm và tài ba trên thác dữ sông Đà.

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà

Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, bức tranh thiên nhiên sông Đà hiện lên vừa hung bạo vừa trữ tình giúp tạo một tấm phông làm nổi lên rõ nét hình tượng người lái đò sông Đà. Ông lái đò được khắc họa mang những nét ngoại hình đầy ấn tượng của một con người miền sông nước: Ông gần bảy mươi tuổi nhưng rất chắc khỏe “thân hình gọn quánh như chất sừng, chất mun”, “tiếng nói ào ào như sông nước”, “hai tay dài lêu nghêu như cái sào lái đò”, “hai chân khuỳnh khuỳnh như đang kẹp chặt cái cuống lái trong tưởng tượng”... Với vài câu miêu tả mà nhà văn chạm khắc hình tượng ông lái đò như là một anh hùng trên sông nước, vẽ nên nhân vật gắn bó với nghề lái đò cả cuộc đời và mức độ tay nghề đã đạt đến mức nghệ sĩ.

Trước hết, nhà văn đã xây dựng lên hình ảnh người lái đò với vẻ đẹp am tường. Một trong những phẩm chất tiên quyết của người nghệ sĩ là anh ta phải am hiểu công việc mình làm, lĩnh vực mình hoạt động, đối tượng mình khám phá, sáng tạo và ông đò chính là người như thế. Người lái đò dường như làm chủ được cả thế trận khi mà ông “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá” và thậm chí là “thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước". Cách sử dụng các từ “binh pháp”, “quy luật phục kích” đã biến đá sông Đà không còn là đá, nước sông Đà không còn là nước vô tri mà thành lũ tướng dữ quân tợn, binh hùng tướng mạnh, túc trí đa mưu. “Thần sông thần đá” khiến lũ binh hùng tướng mạnh thành một thế lực siêu nhiên, siêu hình, mang sức mạnh vạn năng, xuất quỷ nhập thần, lai vô ảnh. Cuộc chiến đó diễn ra “nơi ải nước”, một nơi xa xăm, mịt mờ, hiểm trở, nơi “thập nhân cứ nhất nhân hoàn”. Ông lái đò trở thành một dũng tướng làm chủ đội quân khi mà có thể “nắm chắc”, “thuộc”, khuất phục, chế ngự được sự hung bạo của sông Đà.

Người lái đò còn được Nguyễn Tuân khắc họa với vẻ đẹp tài hoa trí dũng qua ba vòng vây trùng vi thạch trận với những cuộc giao tranh dữ dội. Ở trùng vi thạch trận thứ nhất, sự bản lĩnh, dũng mãnh của ông đò càng thêm nổi bật trên nền thiên nhiên hung bạo. Đó là những hòn đá hiện lên như một đội quân qua nghệ thuật nhân hóa của tác giả: “Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng đòi chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền”, “Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá”, chúng bày năm cửa trận gồm bốn cửa tử và một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Nhà văn còn sử dụng các động từ: “mai phục”, “ăn chết”, “canh cửa”, “hất hàm”, … và tính từ “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, “méo mó”, … để thể hiện sự xảo quyệt, nham hiểm cùng sự áp đảo về thế và lực của đá sông. Cùng với đá còn có nước “nước thác reo hò làm thanh viện cho đá” khiến không khí chiến đấu càng thêm ác liệt. Sóng nước đánh ngón đòn hiểm: đánh đòn tỉa đầy nham hiểm, đòn âm thì hiểm độc, đánh hồi lung lại tàn bạo, đánh vu hồi đầy ti tiện …Đoạn văn tập trung bút lực Nguyễn Tuân và thể hiện phong cách nghệ thuật nhà văn trong sự am tường phong phú về nhiều lĩnh vực ngành nghề: võ thuật, quân sự, bóng đá, trận thư hùng thời cổ để cực tả đá nước sông Đà. Đây là nghệ thuật độc đáo giúp nổi bật vẻ đẹp chí dũng song toàn của ông lái đò. Nhà văn còn ca ngợi người lái đò trong việc sử dụng những binh pháp linh hoạt và sức chịu đựng phi thường: “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”, “hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”, “cố nén vết thương”, “mặt méo bệch đi”, “tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo”, …Ông đò hiện lên đầy bản lĩnh, cam trường, là người làm chủ con thuyền và làm điểm tựa cho cộng sự của ông. Trước bao nhiêu thử thách sông nước phải, không có sự bình tĩnh chủ động quả cảm thì sao ông đò có thể vượt qua.

Ở cửa thứ hai, thạch trận được bố trí tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Việc sử dụng những động từ mạnh kết hợp với biện pháp so sánh, nhân hóa “Dòng thác hùm beo đang hùng hục tế mạnh trên sông đá”, “bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền…”, “không ngớt khiêu khích”, …khiến sóng nước như loài hoang thú dùng hết tốc lực truy sát con mồi. Đối diện với lũ cuồng quân dữ tợn, ông đò có những binh pháp riêng. Nhận thức của ông với việc cưỡi trên thác dòng sông hung bạo này là “phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ.”. Hành động “nắm chặt lấy được cái bờm song đúng luồng”, “ghì cương lái”, “bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy” biến người lái đò thành chiến tướng trên lưng chiến mã, hùng dũng lao vào chiến trận, mang sức mạnh cùng sự bình thản ,tự tin. Với thủy quân ải nước, lúc thì ông “tránh mà rảo bơi chèo lên”, lúc ông lại “đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến.”. Ông lái đò được Nguyễn Tuân miêu tả với những đòn tấn công linh hoạt có cương có nhu, có tiến có thoái, có công có thủ, từ đó tôn vinh vẻ đẹp mưu trí, dũng cảm, kiên cường của ông.

Cuối cùng, ở trùng vây thứ ba, Nguyễn Tuân cho người đọc thấy nét nghệ sĩ của ông lái đò trong nghệ thuật chèo thuyền. Lần này thạch trận có ít cửa hơn, cả hai bên phải trái đều là cửa chết và cái luồng sống thì lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Bởi vậy, ông đò phải vận dụng linh hoạt khả năng và sự khéo léo của mình: “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa”, “thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép”, “thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”. Động từ mạnh “vút”, “xuyên” được lặp đi lặp lại nhấn mạnh tốc độ nhanh của con thuyền và phép so sánh đặc tả sự khéo léo của thuyền trong việc luồn lách tránh đội quân đá. Nhờ đó, cuộc chiến đấu cam go, thử thách giữa con người và thiên nhiên hung bạo đã kết thúc và thắng lợi thuộc về con người với phần thưởng là sự an toàn của những người trở về. Ở vòng này, ông đò đã tấn công trực diện, tập trung và đầy khéo léo, điêu luyện, ông đã thực sự trở thành người nghệ sĩ trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình.

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà

Trong tác phẩm này, hình tượng người lái đò còn hiện lên với phong thái ung dung khi trở về cuộc sống bình thường sau cuộc chiến với Sông Đà dữ tợn. Cuộc sống thường ngày được khắc họa qua việc liệt kê một loạt những hành động bình dị: “đốt lửa trong hang đá”, “nướng ống cơm lam”, “bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng” và “Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi.”. Cuộc đọ sức giữa con người với thiên nhiên đối với những người lần đầu trải nghiệm thì thật ghê gớm, căng thẳng, là một kỳ tích phi thường khi có thể vượt qua nhưng với họ, những người lao động nơi đây thì quả thật bình thường bởi họ vượt qua sóng to gió cả, đưa con thuyền đến bến bình yên không chỉ một lần mà đã trải qua hàng trăm hàng nghìn lần như thế, suốt mười lăm năm làm nghề lái thuyền vượt sông Đà. Bởi vậy ta mới thấy chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ có nơi bom rền sung nổ mà vẫn hàng ngày hàng giờ hiển hiện trong mặt trận lao động dựng xây. Họ là những anh hùng bình dị vô danh đời thường.

Hình tượng người lái đò được tác giả xây dựng rất thành công qua ngòi bút tinh tế, sáng tạo, ông hiện lên vừa là người chiến sĩ anh hùng, bản lĩnh, vừa là người nghệ sĩ tài ba trong nghệ thuật chèo lái trên con sông Đà rộng lớn. Qua đó ta thấy được Nguyễn Tuân là một người tài hoa uyên bác, am hiểu nhiều lĩnh vực ngành nghề, có cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo, phong phú, đó cũng là nhà văn của tính cách phi thường, phong cảnh tuyệt mỹ, không ưa cái bằng phẳng, nhợt nhạt, đều đều. Nhà văn đã khẳng định được tài năng và sức mạnh của con người, cuộc chiến không cân sức giữa con người lao động và thiên nhiên hùng vĩ vốn rất khó khăn, thử thách nhưng bằng sự mưu trí, gan dạ, kiên cường, bản lĩnh, cùng am tường, tài hoa vốn ăn sâu vào máu của những người lao động, họ đã chiến thắng một cách huy hoàng, vẻ vang nhất, trở thành người nghệ sĩ tài ba trên chính mặt trận tìm kế sinh nhai của mình.

Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân. Tác phẩm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa thơ mộng của bức tranh thiên nhiên Tây Bắc với vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa thơ mộng mà còn ngợi ca vẻ đẹp bình dị, anh dũng, tài hoa của người lao động nơi đây và cụ thể là người lái đò Sông Đà. Qua đó, nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu đất nước, niềm tự hào hứng khởi, gắn bó tha thiết với non sông đất nước.

>> Xem thêm bài viết: